Saturday, September 10, 2011

[GAM] Xin còn gọi tên nhau

Tiếng(Am) hát bay trên hàng phố bâng khuâng,
chiều đông đưa (A7) những bước chân đau (Dm) mòn.
Chợt nghe mùa thu bay trên trời (F) không,
còn ai (Dm) giữa mênh mông đời (E7) mình,
nỗi đau (B) mù lấp trên tuổi (E7) thơ.
Phố vẫn hoang vu từ lúc em (Am) đi,
rồi trong mưa (A7) gió biết ai vỗ (Dm) về.
Bàn tay nào đưa em trong lần (F) vui
bằng những (Dm) tiếng chim non thì (E7) thầm
cho ngày tháng ưu phiền em (Am) quên.

Đ.K:

Tình trong cơn ngủ (Am) mê, rồi (Dm) phai trên hàng (G) mi,
chợt (F) khi mình nhớ (E7) về mộng (Am) thành mây bay (Dm) đi,
còn gì trên đôi (F) tay nên (E) thầm hờn dỗi (E7) mình cho tình càng thêm (Am) say

Tiếng hát ru em còn nuối trên (Am) môi,
lời nào gian (A7) dối cũng xin qua (Dm) rồi,
để lỡ ngày sau khi ta cần (F) nhau
còn nuôi (Dm) chút êm vui ngày (E7) đầu
cho mình nhớ kêu thầm tên (Am) nhau.

Tuesday, May 24, 2011

How to manage ERP project

Enterprise resource planning incorporates all aspects of a business into a single software package. Changing ERP software will impact all phases of a business, so managing the project successfully is a key goal. Other goals include ensuring that the business can adapt to the change and ensuring that the new software doesn’t impede productivity. Managing an ERP project requires detailed planning and research. You will need to analyze all aspects of the company’s operations to see how the software change will affect the way they conduct business.

Difficulty:
Challenging

Instructions

Things You'll Need

  • ERP project plan
    • 1
      Enter milestones into the ERP project plan so that you can view the software transition in its entirety. Add specific time frames and task owners for each milestone.
    • 2
      Define measurable metrics for hardware and software and include them in your project plan. Determine the project's technical requirements and add tasks to the plan to ensure that the requirements are met, tested and online prior to the ERP software going live.
    • 3
      Define and map the static and dynamic files that will be converted during the ERP implementation. Static files include products, customers, price matrices and vendors. Dynamic files include accounts receivables, accounts payable, inventory costs, product costs, open sales orders, open purchase orders, purchase history and sale history.
    • 4
      Define user accounts and permissions for your project. The user setup should include testing and training on the new software, as well as live accounts and permissions.
    • 5
      Document the standard operating procedures for this project. End users will refer to this documentation during and after the ERP deployment. Modify the procedures as adjustments are made during the ERP implementation.
    • 6
      Schedule training for your end users. This training should include how the project will impact the user’s daily responsibilities. If possible, include comparison training so that users can see their responsibilities on their previous system and how they will appear in the new ERP system.
    • 7
      Conduct exercises that let the end users use the new system before it goes live. This gives them experience with the new ERP system and the opportunity to ask questions they may not have thought of during training.
    • 8
      Complete the ERP project by deploying the new software with real-time data and shutting down the previous system. During the initial phases of the transition, additional support staff can assist end users as they get used to this change in their work environment.

Read more: How to Manage an ERP Project | eHow.com http://www.ehow.com/how_6716050_manage-erp-project.html#ixzz1NGyXfn4l

Saturday, May 14, 2011

Dependency determination

In the project management world, dependencies determine the order in which various activities should be completed. These dependencies usually documented as an activity attribute and help in sequencing the activities on the project schedule network diagram. As you prepare for your PMP exam, it is important to know the difference between discretionary dependencies and mandatory dependencies.

A mandatory dependency is one that “must be” carried out at a particular time. It is usually requirement of some kind based on contracts, laws, company procedures, physical limitations, etc. When the sequence of events is developed for various aspects of the process, mandatory dependencies are placed where they must happen.

A discretionary dependency is one that isn't based on a "have to", but on a "should". These decisions are usually based upon best practices, business knowledge, etc. They are placed on the project diagram where the team members would like them to occur.

Since discretionary dependencies are more arbitrary, they should be fully documented so the reasons for their placement can be maintained and available during future revisions. As a project progresses and adjustments are needed, discretionary dependencies are often reviewed for possible alterations.

Sunday, March 20, 2011

Hạnh phúc đơn sơ

HẠNH PHÚC ĐƠN SƠ - Bolero
......................Am.......................... ...................................Dm
Ngày mình yêu nhau. Hai bàn tay trắng cơ hàn. Tình đẹp làm sao
................................Am................ .........E7....................................... ...Am
Vui buồn cay đắng có nhau. Mười năm trôi qua. Một sương hai nắng chung lòng.
.................Dm..............................A m
Tổ ấm đơn sơ. Nhưng tình yêu thiết tha.
...................Am .................................................. .....................Dm
Rồi thời gian trôi. Êm đềm như nước xuôi dòng. Người thầm mộng mơ.
..................................Am.............. .........E7................................Am
Xây tình nhung gấm xa hoa. Rồi người phụ tôi. Ra đi không nói một lời.
...............Dm................................. ..Am
Bỏ lại con thơ. Quên đi nghĩa tình phu thê.
..............Am.....................Dm........... ......................Am
Đêm qua đêm. Ôm con dại khờ. Đôi dòng lệ thắm sầu rơi.
...........................E7..................... ...............Am.........................Dm
Thầm trách người đi. Tham chi cuộc sống kim tiền. Hạnh phúc đơn sơ.
...........................Am..................... E7....................................Am
Tôi tìm sao chẳng thấy. Chỉ thấy xót xa. Khi con khờ hỏi mẹ đâu cha.
....................Am............................ ................................Dm
Tỉnh mộng đi em. Quay về bên mái gia đình. Mở rộng vòng tay.
..............................Am.................. .E7........................................Am
Ân tình anh đón chờ em. Nụ cười con thơ. Thân thương mái ấm gia đình.
.................Dm............................... ..........Am
Bạc tiền xa hoa. Không mua nổi hạnh phúc đâu.

Rừng lá thấp




.............E7.....................................Am
Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi
..................D.................................Am
Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì
.........Am.................................C
Tôi là người đi chinh chiến dài lâu
........................E7.............................Am
Nên mộng ước đầu tôi nghe đã chìm sâu

(Tuong tu)
Từ máy thu thanh cô nàng vừa ca:
"Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà"
Giữa rừng già vang tiếng hát thật cao
Nhưng giữa già tôi có thấy gì đâủ

ĐK:
F.......................................Am.................Dm
Sao không hát cho người giết giặc trên cầu
......G.................E................C....
Khi bùn lầy còn pha sắc áo xanh
.................................G.....
Trong khói súng xây thành
........Am.....................C...
Mắt quầng thâm mất ngủ
.....................Am
tàn đêm khói lửa,
..........................................C..
Giờ chỉ còn hai tiếng "mến anh"

G........................................E7..................Am
Sao Không hát cho những người còn mải mê
.....G...................E7....................Am
Lá rừng che kín đường về phồn hoa
...................................C......................................E(E7)
Không hát cho những bà mẹ hằng đêm nhớ con xa
.......G......................E7........................................Am
Hay hát cho những người vừa nằm xuống chiều qua


Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh.
Đời lính quen yêu gian khổ quân hành
Nghe từ ngày thơ tiếng súng triền miên
Đánh giặc lâu bền cho non nước bình yên


Lời hát xin gây rung động thật sâu
Đừng hát như chim giữa rừng lá sầu
Xin thật lòng qua câu hát đầu môi
Như lính giữa rừng yêu lá thấp mà thôi

Chỉ có em

Trời thu[C] mưa bay bay[G]
Đường khuya vắng[G] không người
Dìu em[G] trong cơn mê dài tăm tối[C]
Làm sao[F] cho anh đi vào nắng ấm[Em] ban mai
Để giấc[Dm] mơ đẹp mãi[G] trong tương lai[C]
tương tự....
Bàn tay anh xanh xao vì cơn lốc bao ngày
Bờ môi yêu như không còn hơi ấm
Làm sao cho anh đi vào thơ ấu xa xưa
Chỉ có em lòng vui sau cơn mưa

Ngày anh gặp đôi mắt long lanh
Lần đầu anh lạc trong hố mê say
Dường như ta quen nhau từ muôn kiếp
Vừa gặp lại ta đã sợ tình cao bay

Từ khi anh yêu em là anh biết đợi chờ
Chờ cho mau qua đêm dài đen tối
Mình yêu nhau đi thôi đừng lo phút chia tay
Chỉ có em nghìn sau như đêm nay

Sunday, November 7, 2010

Sunk cost

Trong ngôn ngữ tài chính, chi phí chìm (sunk cost) là khoản đầu tư thời gian và tiền bạc không thể lấy lại được do những quyết định sai lầm trong quá khứ. Loại chi phí này không được đưa vào trong những tính toán dự án. Mặc dù chi phí chìm thể hiện quá khứ, nhưng con người đôi khi vẫn để chi phí chìm ảnh hưởng đến các quyết định trong tương lai.

Hãy xem ví dụ sau:

Phil đã trả 50 đô la để mua một tấm vé xem hòa nhạc của ban nhạc mà anh yêu thích. Hai giờ trước khi bắt đầu buổi hòa nhạc, sếp anh gọi điện nói rằng cuộc họp của hội đồng quản trị vừa kết thúc và họ sắp đi ăn tối. Sếp anh bảo. "Tôi muốn mời cậu cùng đi. Đây là cơ hội tốt để cậu làm quen với các thành viên hội đồng quản trị và ngược lại".

"Thật tuyệt", Phil nghĩ. "Gặp mặt hội đồng quản trị có thể hỗ trợ nghề nghiệp của mình". Nhưng thật là ngốc nghếch, anh đã từ chối cơ hội quý giá này với suy nghĩ: "Tôi không thích lãng phí số tiền 50 đô la đó".

Trong ví dụ này, 50 đô la đã tiêu tốn dù Phil có đi xem hòa nhạc hay không. Tuy nhiên, anh đã để chi phí chìm tác động đến một quyết định khác mà rõ ràng có tiềm năng sinh lợi cao hơn.

Những người ra quyết định thường phạm phải sai lầm này vì đôi khi họ không nhận ra được sự thật rằng chi phí chìm không thể bù đắp được, nhưng chủ yếu là vì bản thân họ không muốn phải gánh chịu một khoản tổn thất lớn khi xúc tiến phương án thay thế. Tại sao vậy? Vì việc xúc tiến phương án thay thế sẽ làm ảnh hưởng đến quyết định ban đầu. Đó là lý do tại sao nhà điều hành ủng hộ cho kế hoạch marketing đã thất bại của công ty bạn lại tiếp tục bảo vệ nó khi nhu cầu thay đổi thật rõ ràng đối với tất cả những người khác. Nhà điều hành sẽ lập luận: "Chúng ta cần nhiều thời gian hơn cho chiến lược này".

Nhược điểm về chi phí chìm cũng giải thích tại sao nhiều nhà quản lý tỏ ra chậm chạp khi đối mặt với những quyết định tuyển dụng tệ hại. Họ tuyển dụng và đầu tư đào tạo cho một người nhưng rõ ràng anh ta không làm được việc dù có đào tạo và huấn luyện như thế nào đi nữa. Thay vì giải quyết triệt để cho quyết định tuyển dụng tệ hại này, các nhà quản lý thường đưa ra một quyết định tệ hại khác: đầu tư thêm thời gian cho việc huấn luyện và đào tạo với hy vọng sẽ có sự thay đổi hoàn toàn.

Hai nhà điều hành được phỏng vấn cho cuốn sách này đã nhấn mạnh rằng những quyết định tuyển dụng tệ hại là khó khăn lớn nhất cần khắc phục. Một người nói: "Tôi luôn phải trăn trở, suy nghĩ rất nhiều mỗi khi phải sa thải một nhân viên". Người còn lại tiếp tục: "Nhìn chung, tôi nghĩ quyết định khó khăn nhất là khi loại bỏ một điều tệ hại. Chúng tôi luôn mất nhiều thời gian cho việc đó với hy vọng rằng sự việc sẽ cải thiện".

Vô hiệu hóa xu hướng chi phí chìm

Công ty bạn có gặp phải vấn đề chi phí chìm không? Cũng giống như hầu hết các xu hướng ra quyết định khác, giải pháp tốt nhất là công khai vấn đề. Sau đây là một vài cách thực hiện:

+ Giúp mọi người nhận ra chi phí chìm đang ảnh hưởng đến quyết định hiện tại của họ.

+ Giải thích rằng mọi người đều có lúc phạm phải sai lầm - như tuyển dụng sai người, đề ra chiến lược không phù hợp,... Những sai lầm này thường có thể tha thứ được. Điều không thể tha thứ là cho phép một sai lầm dẫn đến một sai lầm khác.

+ Nếu có thể, đừng đưa vào nhóm ra quyết định của bạn những người có xu hướng thiên về chi phí chìm.


ài viết này nhằm mục đích đưa ra một cách nhìn khác hơn về “sự đánh đổi” và “chi phí cơ hội” từ đó liên hệ đến hành vi ra quyết định đầu tư. Cũng trên cơ sở có cách nhìn khác hơn về “sự đánh đổi” và “chi phí cơ hội” mà bài viết cũng đưa ra một thuật ngữ mới là “chênh lệch cơ hội” để thay thế cho thuật ngữ “lợi nhuận kinh tế”.

Với tinh thần cầu thị, rất mong sự đóng góp ý kiến của các thành viên để tôi có thể thấy được những thiếu sót của bài viết để có thể hoàn thành nghiên cứu này ở mức độ cao hơn.

Bài viết này nhằm mục đích đưa ra một cách nhìn khác hơn về “sự đánh đổi” và “chi phí cơ hội” từ đó liên hệ đến hành vi ra quyết định đầu tư. Cũng trên cơ sở có cách nhìn khác hơn về “sự đánh đổi” và “chi phí cơ hội” mà bài viết cũng đưa ra một thuật ngữ mới là “chênh lệch cơ hội” để thay thế cho thuật ngữ “lợi nhuận kinh tế”.

1. Sự đánh đổi và chi phí cơ hội.

Trong kinh tế học thì hai nguyên lý “sự đánh đổi” và “chi phí cơ hội” đóng vai trò hết sức quan trọng và có mối liên hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên việc hiểu và phân biệt chính xác hai thuật ngữ này là một điều khó khăn và khiến nhiều người nhầm lẫn.

choice.gif“Sự đánh đổi” được hiểu một cách đơn giản là bỏ cái này để lấy cái kia hay muốn được cái này thì phải từ bỏ cái khác. Trong cuộc sống chúng ta luôn phải đối mặt với những sự đánh đổi như vậy, bạn bỏ ra một giờ để được xem một bộ phim thì bạn mất đi một giờ để làm những việc khác. Một cách tổng quát, ta có A và ta có một tập hợp các cơ hội có thể thay thế A là B, C, D,…Ta muốn đổi A lấy B thì ta không thể có C hoặc D…, ta muốn đổi A lấy C thì ta không có B hoặc D…Hay nói rõ ràng hơn nếu ta đổi A lấy B thì ta không có cơ hội để dùng A đổi C hoặc D…

Tuy nhiên đó mới chỉ là sự đánh đổi về hình thức mà chưa quan tâm tới nội dung của nó. Khi bạn đổi A lấy B thì bạn quan tâm đến việc bạn được gì ở B và ở đây bạn quan tâm tới lợi ích B’ của nó. Khi bạn được B’ thì đồng nghĩa với việc bạn đã bỏ qua cơ hội được có lợi ích C’ từ C hay D’ từ D…

Như vậy đánh đổi bao gồm hai phần: đánh đổi về hình thức và đánh đổi về nội dung. Từ các phân tích sau bạn sẽ thấy, sự đánh đổi về nội dung sẽ là nền tảng để chúng ta bàn về chi phí cơ hội.

Giả sử rằng bạn đã quyết định đổi A lấy B. Vậy điều nào đã quyết định hành vi này của bạn.

Nếu giả sử bạn không nhắm mắt chọn bừa thì điều quyết định đến hành vi trao đổi của bạn là xuất phát từ chi phí cơ hội.

Việc hiểu chi phí cơ hội như thế nào thực tế lại phức tạp hơn ta tưởng. Nếu như tập hợp các cơ hội thay thế cho A là duy nhất, tức là bạn chỉ có duy nhất B (hoặc C hay D…) để trao đổi thì chi phí cơ hội không xảy ra. Tuy nhiên, nếu như bạn có một tập hợp từ hai cơ hội trao đổi trở lên thì chi phí cơ hội sẽ xảy ra. Bạn sẽ thấy ngay như sau:

Đầu tiên chúng ta hãy nói đến chi phí nói chung. Chúng ta có thể hiểu một cách chung chung như thế này: Chi phí của một thứ là tất cả những gì bạn phải bỏ ra để có được nó. Vậy chi phí của B là gì? Có phải là A không? Chúng ta cần đi sâu vào vấn đề một chút. A có lợi ích A’ nào đó. Và bạn đang dùng lợi ích A’ này để đánh đổi với lợi ích B’. Chính vì vậy khi nói đến chi phí nói chung bạn cần phải tính đến cả phần lợi ích mà bạn từ bỏ.

Như vậy chúng ta cũng thấy rằng xuất phát từ hai loại đánh đổi, để tính chi phí chúng ta có thể chia làm hai loại chi phí là chi phí cho hình thức và chi phí cho nội dung. Chi phí cho hình thức có thể gọi nó dưới một cái tên là chi phí thuần tuý. Chi phí thuần tuý là loại chi phí chưa tính đến chi phí cơ hội, nó thể hiện bằng khối lượng trao đổi trực tiếp. Chi phí cho nội dung là chi phí cơ hội. Chúng ta sẽ đi sâu hơn vào loại chi phí này ở phần tiếp theo.

Khi bạn dùng A đổi B thì bạn được lợi ích B’ nhưng bạn cũng đã bỏ qua lợi ích A’ nào đó. Vấn đề ở đây là bạn không thể đánh giá chính xác lợi ích A’, tức là bạn không thể dùng lợi ích A’ để đánh giá nó, bạn chỉ có thể đánh giá nó thông qua những sự so sánh khác. Vì vậy để tính chi phí cho B’ bạn cần dùng C’ hay D’…để tính. Và C’ hay D’… là những chi phí cơ hội của việc bạn được B’ (hay là chi phí của B’). Ta lấy một ví dụ:

Bạn có 100.000USD, người bạn thân của bạn khuyên bạn nên gửi tiền vào ngân hàng với lãi suất 5%/năm, nhưng bạn quyết định cùng góp vốn đầu tư vào một cửa hàng quần áo của một người em ruột, bạn vẫn đi làm công việc trước đây của mình. Cuối năm bạn có khoản thu nhập từ việc đầu tư là 10.000USD. Vậy chi phí cơ hội ở đây được xác định như thế nào?

KuhnBalancingAct.jpgMột số người sẽ nói rằng: chi phí cơ hội của quyết định đầu tư của bạn là 5000USD mà bạn đã bỏ qua khi không gửi tiết kiệm. Điều này là chưa rõ ràng, chúng ta cần hiểu là chúng ta đầu tư thì chúng ta mong được gì? Rõ ràng đó là những lợi ích từ đầu tư, và ở đây lợi ích là 10.000 USD. Như vậy, khi bạn nói điều trên thì người ta có thể hiểu ngầm nó là: chi phí cơ hội của 100.000 USD tiền đầu tư và 10.000 USD tiền lãi từ quyết định đầu tư là 5.000 USD và điều này là không đúng. 100.000 USD ở đây là biểu hiện của sự đánh đổi, mặt khác để có được 5.000 USD thì bạn cũng phải bỏ ra 100.000 USD gửi vào ngân hàng và nó cũng là một sự đánh đổi. Nếu bạn triệt tiêu hai sự đánh đổi này thì chỉ còn lại sự so sánh giữa hai đối tượng có cùng tính chất: lợi ích từ sự đánh đổi. Đó là sự so sánh giữa 10.000 USD và 5.000 USD. Điều này mới hợp lý. Như vậy, để nói một cách chính xác hơn thì chi phí cơ hội của việc bạn có được 10.000 USD từ quyết định đầu tư là 5.000 USD bạn đã bỏ qua không đầu tư vào ngân hàng.

Tuy nhiên vẫn còn thiếu cái gì đó. Nếu như bạn thấy rằng bạn vẫn có thể có một cơ hội đầu tư khác là vào thị trường chứng khoán, bạn dự định mua cổ phiếu của công ty ABC (nhưng bạn đã không mua) và cuối năm với 100.000 USD bạn đầu tư thì bạn có thể nhận được một khoản cổ tức là 6.000 USD từ quyết định của chia cổ tức từ đại hội đồng cổ đông. Vậy thì đâu mới là chi phí cơ hội thực sự của bạn (của 10.000 USD), đó là 6.000 USD. Bạn sẽ tính toán chi phí cơ hội dựa trên nguyên tắc nó là lợi ích tốt nhất trong những lợi ích mà bạn đã bỏ qua.

Như vậy chi phí cơ hội cần phải tính cho khoản ích lợi thu được từ khoản đầu tư, chứ không phải tính cho cả khoản đầu tư. Và nó chính là phần lợi ích tốt nhất trong tập hợp những lợi ích mà bạn đã bỏ qua.

Đến đây bạn cũng có thể suy ra là tại sao nếu chỉ có một cơ hội đánh đổi duy nhất thì chi phí cơ hội không sảy ra. Đơn giản là vì bạn không có các lợi ích bị bỏ qua.

Trên thực tế, giá trị thực sự của chi phí cơ hội nhiều khi rất khó xác định vì nó chịu tác động của nhiều yếu tố. Từ ví dụ trên nhưng bây giờ bạn mua đứt của hàng và làm chủ, bạn cũng từ bỏ mức lương 20.000 USD một năm. Thu nhập một năm của bạn từ việc làm chủ cửa hàng là 28.000 USD. Vậy đâu là chi phí cơ hội cho những lợi ích của bạn từ việc làm chủ? Đó là 20.000 USD + 10.000 USD = 30.000 USD. (ta cộng 10.000 USD vì đây là phần lợi ích tốt hơn so với lợi ích tự việc cho vay là 5.000 USD). Nhưng liệu như vậy đã đủ ? Khi không làm chủ, bạn có thể có nhiều thời gian rảnh để làm chuyện khác hơn, ít phải suy nghĩ hơn…

Một vấn đề tiếp theo liên quan đến hành vi của bạn là tại sao bạn lại lựa chọn cơ hội đầu tư này mà không lựa chọn cơ hội đầu tư kia ?

Thứ nhất, bạn không thể tính hết được tất cả các cơ hội đầu tư (đánh đổi).

Thứ hai, trong tập hợp các cơ hội đầu tư (đánh đổi), bạn không thể tính hết được lợi ích từ từng cơ hội đầu tư (từng sự đánh đổi). Chính vì vậy bạn không thể tính ra được chính xác các chi phí cơ hội cho những lợi ích bạn kiếm được từ quyết định đầu tư.

Thứ ba, vì hai lý do trên cho nên bạn mới sử dụng đến sự dự tính, ở đây đó là lợi ích dự tính. Đầu tiên bạn chỉ quan tâm đến những lợi ích nào mà bạn dự tính là cơ bản và nó sẽ tốt nhất cho bạn. Sau đó bạn sẽ chọn cơ hội đầu tư mà theo bạn sẽ đem lại lợi ích lớn hơn các lợi ích từ các cơ hội đầu tư khác. Hay nói cách khác, bạn dự tính rằng lợi ích từ việc đầu tư sẽ ít nhất phải bù đắp được chi phí cơ hội.

Như vậy bạn đã nhận ra hành vi đầu tư của bạn. Nhưng bạn vẫn muốn biết cuối cùng thì việc đầu tư đó thực sự có đem lại cho bạn được lợi ích tốt hơn các lợi ích khác dựa vào kết quả đầu tư của bạn hay không. Điều này lại liên quan tới hai thuật ngữ nữa mà các nhà kinh tế học thường đưa ra đó là lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán.

2. Lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán.

dealers_license_2.gifCác nhà kinh tế học thường có những quan điểm chung về lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán. Tuy nhiên việc xây dựng hai thuật ngữ trên mà không nói lên được ý nghĩa kinh tế và hành vi kinh tế đã khiến cho nhiều người tuy phân biệt được hai thuật ngữ trên nhưng lại không biết sử dụng chúng để làm gì.

Mục đích phần này nhằm giải quyết vấn đề: nên hiểu thuật ngữ “lợi nhuận kinh tế” như thế nào, sử dụng vào mục đích gì và có nên thay thế bằng một thuật ngữ khác hay không?

Trong cuấn sách “Principles of Economics”, N. Gregory Mankiw – Giáo sư kinh tế học trường đại học tổng hợp Harvard - xây dựng hai thuật ngữ này dựa trên nền tảng là chi phí cơ hội. Ông cho rằng sự khác biệt giữa hai thuật ngữ là do chi phí cơ hội bao gồm hai loại chi phí: chi phí hiện và chi phí ẩn.

Để hiểu hai loại chi phí này ta lấy lại ví dụ trên (trong trường hợp bạn mua đứt của hàng). Theo như N. Gregrory Mankiw chi phí hiện là 100.000 USD (được thể hiện trong sổ sách kế toán) còn chi phí ẩn là 20.000 USD tiền lương và 10.000 USD bạn đã bỏ qua cơ hội góp vốn (những chi phí này không thể hiện trên bảng cân đối kế toán của bạn vì nó không thể hiện dòng tiền đi vào hay đi ra khỏi cửa hàng của bạn). Như vậy chi phí cơ hội ở đây là 130.000 USD.

Đến đây bạn đã thấy là Giáo sư Mankiw đã tính chi phí cơ hội khác với chúng ta. Đối với chúng ta, 100.000 USD không phải là một phần của chi phí cơ hội, nó là chi phí thuần tuý biểu hiện cho sự đánh đổi trực tiếp. Chi phí cơ hội mà chúng ta đã tính chỉ là 30.000 USD, nó thể hiện phần lợi ích mà bạn đã bỏ qua. Bây giờ quyết định chọn chi phí cơ hội bao nhiêu là tuỳ ở bạn.

Tiếp theo Giáo sư tính toán lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán như sau:

Lợi nhuận kế toán = Doanh thu – chi phí hiện = 128.000 – 100.000 = 28.000 USD

Lợi nhuận kinh tế = Doanh thu - chi phí cơ hội = 128.000 – 130.000 = -2.000 USD.

Như vậy, 28.000 USD là biểu hiện bạn đã lãi theo quan điểm của nhà kế toán. Nhưng theo quan điểm của nhà kinh tế thì bạn đang lỗ 2.000 USD. Nhưng bạn sẽ hỏi là vậy việc lỗ này mang ý nghĩa gì? Câu trả lời sẽ rất chung chung mà bạn có thể thường thấy: lỗ về mặt kinh tế hoặc là lỗ theo quan điểm của nhà kinh tế. Nhưng lỗ theo quan điểm của nhà kinh tế hay lỗ về mặt kinh tế là gì? Trong khi bạn vẫn có thể hiểu khái niệm lỗ theo nghĩa thông thường là cái mà bạn thu được không tương xứng với cái mà bạn bỏ ra. Tất cả vẫn còn mơ hồ.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét lại thuật ngữ “Lợi nhuận kinh tế”.

Từ công thức trên ta phân tích kỹ hơn một chút sẽ thấy:

Lợi nhuận kinh tế = Doanh thu – Chi phí cơ hội = (Chi phí hiện + lợi nhuận) – (chi phí hiện + lợi ích từ khoản đầu tư mà bạn đã bỏ qua) = Lợi nhuận - Lợi ích từ khoản đầu tư mà bạn đã bỏ qua. = 28.000 – 30.000 = - 2.000 USD.

Qua kết quả trên, chúng ta thấy rằng thực chất của lợi nhuận kinh tế mà chúng ta thường hiểu là sự so sánh giữa lợi ích của việc đầu tư và lợi ích từ khoản đầu tư mà bạn đã bỏ qua. Hay như chúng ta đã bàn ở phần trên. Đó là sự so sánh giữa lợi ích và chi phí cơ hội. Mà đã là sự so sánh của hai đối tượng có tính chất tương đồng (đều là lợi ích) thì có nên gọi sự chênh lệch đó là lợi nhuận kinh tế không? Chúng ta thử xem xét một ý tưởng thay thế sau:

Lợi ích từ quyết định đầu tư của bạn sẽ có thể trở thành chi phí cơ hội nếu như bạn có quyết định đầu tư ngược lại. Như vậy chúng ta thử xem xét một công thức sau:

Chênh lệch cơ hội = Lợi ích (từ khoản đầu tư) – chi phí cơ hội

Nếu chênh lệch cơ hội là một số dương thì có nghĩa là bạn đang “thặng dư cơ hội”. Tức là bạn là người biết tận dụng cơ hội, lợi nhuận mà bạn hưởng đã theo dự tính của bạn là nó bù đắp được chi phí cơ hội. Bạn đã lựa chọn cho mình cơ hội đầu tư tốt nhất trong tập hợp các cơ hội đầu tư mà bạn biết.

Nếu chênh lệch cơ hội là một số âm thì bạn đang “thâm hụt cơ hội”. Điều này có nghĩa là bạn chưa lựa chọn được cho mình cơ hội đầu tư tốt nhất.

Từ kết quả phân tích trên sẽ đưa ra cho bạn một quyết định là có nên tiếp tục đầu tư nữa hay không. Nếu bạn đang “thặng dư cơ hội” thì xác suất để bạn quyết định tiếp tục đầu tư theo hướng cũ là rất cao (trong trường hợp bạn không tìm ra được cơ hội đầu tư nào mới mà bạn dự tính là nó sẽ cho lợi ích cao hơn). Nếu bạn đang “thâm hụt cơ hội” thì bạn sẽ phải phân vân suy tính về việc đầu tư này của bạn đây.

Trên thực tế việc tính toán “chênh lệch cơ hội” không phải đơn giản như vậy. Nếu bạn cho rằng tiền là tiêu chuẩn đánh giá quan trọng nhất của bạn thì từ ví dụ trên, chênh lệch cơ hội là 2.000 USD. Nhưng nếu bạn cho rằng tiền không phải là tiêu chuẩn duy nhất, bạn thích làm chủ và không muốn phụ thuộc…mặc dù đổi lại bạn phải mất đi 2.000 USD, tốn nhiều thời gian hơn, lo nghĩ nhiều hơn…nếu cuối cùng bạn cho rằng tất cả chi phí cơ hội đó không là gì so với lợi ích được làm chủ thì đối với bạn, bạn vẫn có một dấu dương đứng trước chênh lệch cơ hội. Điều này sẽ là ngược lại nếu như bạn cho rằng thật không đáng khi phải đánh mất nhiều thứ như thế chỉ để có cảm giác của một người chủ…

Như vậy, với các tiêu chuẩn về lợi ích khác nhau thì bạn sẽ có sự chênh lệch cơ hội là khác nhau. Chính vì vậy cũng sẽ rất khó khăn cho bạn khi bạn muốn lượng hoá thành một con số cụ thể nếu như bạn không lấy tiền là tiêu chuẩn duy nhất và quan trọng nhất.
Ngày gửi: 26/08/2008 - 10:40